Chào mừng quý vị đến với website của Trường TH Cao Dương - Thanh Oai
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Thanh Oai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: St
Người gửi: Hoàng Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:03' 05-11-2013
Dung lượng: 10.2 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn: St
Người gửi: Hoàng Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:03' 05-11-2013
Dung lượng: 10.2 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG TIỂU HỌC BÌNH MINH I
BÀI SỐ 1: BÀI VIẾT GIẢNG DẠY VÀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ XÃ BÌNH MINH
Để hưởng ứng việc áp dụng giảng dạy và giáo dục Lịch Sử - Địa Lý địa phương của ngành đề ra.
Chúng tôi được công tác giảng dạy ở Trường tiểu học Binh Minh I, xin giới thiệu về truyền thống lịch sử, văn hóa của xã Bình Minh.
I. Thiết chế làng xã và tín ngưỡng, lễ hội.
Suốt chiều dài lịch sử phát triển, Bình Minh là một vùng đất vừa có đặc điểm văn hóa chung trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, lại vừa mang những điểm riêng, nổi bật, trong đó yếu tố văn hóa Việt cổ giữ vai trò chủ thể. Tiến trình phát triển văn hóa bản địa trên quê hương Bình Minh không diễn ra êm ả, xuôi dòng. Tuy có sự “xâm nhập” của các yếu tố văn hóa ngoại lai gắn gắn liền với mưu đồ sáp nhập lãnh thổ của giặc ngoại xâm khi đứt, khi nối hàng nghìn năm, nhưng văn hóa bản địa không những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại vẫn được bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc riêng.
Ở Bình minh thời phong kiến, nhiều công việc làng xã do dân làng tự quyết định, huyện ít can thiệp hoặc nếu có can thiệp thì tác dụng rất ít, cho nên mới có câu “phép vua thua lệ làng” là thế. Trong làng cao nhất là tiên chỉ và một người thứ chỉ. Tuy có quyền quyết định mọi việc trong làng, song thực tế họ chỉ trông nom những việc chủ yếu, còn lại do Hội đồng kỳ mục bàn định. Dưới hội đồng kỳ mục là người đương thứ lý dịch. Những người này do dân bầu, rồi trình lên huyện quan xin cấp bằng để thay mặt dân làm việc với các quan.
Vào cuối thời Lê đầu thời Nguyễn (từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX) các làng đều có phe giáp, phường hội. Giáp là một đơn vị được tổ chức ở thôn, làng, gồm những người cùng họ hoặc khác họ (cha ở giáp nào thì con ở giáp ấy), có bầu giáp trưởng (tức tộc trưởng). Con trai, khi đủ tuổi vào giáp phải có lễ trình với giáp trưởng và bắt đầu trở thành thành viên của giáp…Phường hội là tổ chức tập hợp quần chúng theo nghề nghiệp, như phường bát âm, hội đồng môn…
Để giữ gìn khuôn phép, các làng – thôn – xóm, các phe giáp đều đặt ra quy ước riêng để điều hòa những tranh chấp , xung đột, đồng thời khống chế, ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Quy ước có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng phổ biến ở Bình Minh vẫn được gọi là lệ làng. Cũng như các địa phương khác trong huyện, phong tục tập quán ở bình Minh khá phong phú và đa dạng, dưới đây là một vài tục lệ tiêu biểu:
Tục hôn nhân: Việc dựng vợ gả chồng cho con cái thường phải môn đăng hộ đối, có người dắt mối và theo tư tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Khi hai gia đình đã nhận lời gả con cho nhau thì nhà trai phải làm đầy đủ các thủ tục, đặc biệt không thể bỏ qua khâu ăn hỏi, lễ cưới, rước dâu, ăn uống linh đình. Có trường hợp nhà gái hoặc nhà trai túng thiếu, phải chạy ngược chạy xuôi vay mượn lo cho chu toàn công việc để tránh điều tiếng ở làng. Dưới chế độ cũ, nạn tảo hôn thường xuyên xảy ra, 14 – 16 tuổi là cha mẹ đã dựng vợ gả chồng. Ngoài ra, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ…
Tục tang ma: Tang lễ là những lễ nghi được đặt ra để bày tỏ lòng thương xót và kính thờ người chết. Trong nhà có người quá cố, tang chủ đến trình với giáp trưởng. Giáp trưởng thông báo đến toàn giáp và phân công các trai đinh vào việc. Sau khi khâm liệm, nhập quan, phát tang, gia đình, con cháu, họ mạc đưa người quá cố đi chôn cất trọng thể. Người Bình Minh cũng duy trì tục “3 ngày”, “49 ngày”. Khi cải táng, con cháu làm lễ cáo từ đường rồi khai mộ, đem xương cốt cho vào một cái tiểu sành, chôn sang mộ mới gọi là cải cát.
Tục khao vọng: Trong xã, những ai trúng cử làm chức sắc, đỗ đạt, được phong chức đều phải tổ chức khao vọng để khẳng định diện mạo mới. Sau khi làm lễ khao, người đó mới được dân làng gọi theo chức tước, học vị, phẩm hàm của mình. Người dân rất coi trọng việc khao vọng, kể cả phải vay mượn, bán ruộng hoặc bán nhà để làm lễ, vì “vô vọng bất thành danh”…
Cùng với sự hình thành cộng đồng làng xã, dần dần các hình thức sinh hoạt văn
BÀI SỐ 1: BÀI VIẾT GIẢNG DẠY VÀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ XÃ BÌNH MINH
Để hưởng ứng việc áp dụng giảng dạy và giáo dục Lịch Sử - Địa Lý địa phương của ngành đề ra.
Chúng tôi được công tác giảng dạy ở Trường tiểu học Binh Minh I, xin giới thiệu về truyền thống lịch sử, văn hóa của xã Bình Minh.
I. Thiết chế làng xã và tín ngưỡng, lễ hội.
Suốt chiều dài lịch sử phát triển, Bình Minh là một vùng đất vừa có đặc điểm văn hóa chung trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, lại vừa mang những điểm riêng, nổi bật, trong đó yếu tố văn hóa Việt cổ giữ vai trò chủ thể. Tiến trình phát triển văn hóa bản địa trên quê hương Bình Minh không diễn ra êm ả, xuôi dòng. Tuy có sự “xâm nhập” của các yếu tố văn hóa ngoại lai gắn gắn liền với mưu đồ sáp nhập lãnh thổ của giặc ngoại xâm khi đứt, khi nối hàng nghìn năm, nhưng văn hóa bản địa không những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại vẫn được bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc riêng.
Ở Bình minh thời phong kiến, nhiều công việc làng xã do dân làng tự quyết định, huyện ít can thiệp hoặc nếu có can thiệp thì tác dụng rất ít, cho nên mới có câu “phép vua thua lệ làng” là thế. Trong làng cao nhất là tiên chỉ và một người thứ chỉ. Tuy có quyền quyết định mọi việc trong làng, song thực tế họ chỉ trông nom những việc chủ yếu, còn lại do Hội đồng kỳ mục bàn định. Dưới hội đồng kỳ mục là người đương thứ lý dịch. Những người này do dân bầu, rồi trình lên huyện quan xin cấp bằng để thay mặt dân làm việc với các quan.
Vào cuối thời Lê đầu thời Nguyễn (từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX) các làng đều có phe giáp, phường hội. Giáp là một đơn vị được tổ chức ở thôn, làng, gồm những người cùng họ hoặc khác họ (cha ở giáp nào thì con ở giáp ấy), có bầu giáp trưởng (tức tộc trưởng). Con trai, khi đủ tuổi vào giáp phải có lễ trình với giáp trưởng và bắt đầu trở thành thành viên của giáp…Phường hội là tổ chức tập hợp quần chúng theo nghề nghiệp, như phường bát âm, hội đồng môn…
Để giữ gìn khuôn phép, các làng – thôn – xóm, các phe giáp đều đặt ra quy ước riêng để điều hòa những tranh chấp , xung đột, đồng thời khống chế, ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Quy ước có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng phổ biến ở Bình Minh vẫn được gọi là lệ làng. Cũng như các địa phương khác trong huyện, phong tục tập quán ở bình Minh khá phong phú và đa dạng, dưới đây là một vài tục lệ tiêu biểu:
Tục hôn nhân: Việc dựng vợ gả chồng cho con cái thường phải môn đăng hộ đối, có người dắt mối và theo tư tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Khi hai gia đình đã nhận lời gả con cho nhau thì nhà trai phải làm đầy đủ các thủ tục, đặc biệt không thể bỏ qua khâu ăn hỏi, lễ cưới, rước dâu, ăn uống linh đình. Có trường hợp nhà gái hoặc nhà trai túng thiếu, phải chạy ngược chạy xuôi vay mượn lo cho chu toàn công việc để tránh điều tiếng ở làng. Dưới chế độ cũ, nạn tảo hôn thường xuyên xảy ra, 14 – 16 tuổi là cha mẹ đã dựng vợ gả chồng. Ngoài ra, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ…
Tục tang ma: Tang lễ là những lễ nghi được đặt ra để bày tỏ lòng thương xót và kính thờ người chết. Trong nhà có người quá cố, tang chủ đến trình với giáp trưởng. Giáp trưởng thông báo đến toàn giáp và phân công các trai đinh vào việc. Sau khi khâm liệm, nhập quan, phát tang, gia đình, con cháu, họ mạc đưa người quá cố đi chôn cất trọng thể. Người Bình Minh cũng duy trì tục “3 ngày”, “49 ngày”. Khi cải táng, con cháu làm lễ cáo từ đường rồi khai mộ, đem xương cốt cho vào một cái tiểu sành, chôn sang mộ mới gọi là cải cát.
Tục khao vọng: Trong xã, những ai trúng cử làm chức sắc, đỗ đạt, được phong chức đều phải tổ chức khao vọng để khẳng định diện mạo mới. Sau khi làm lễ khao, người đó mới được dân làng gọi theo chức tước, học vị, phẩm hàm của mình. Người dân rất coi trọng việc khao vọng, kể cả phải vay mượn, bán ruộng hoặc bán nhà để làm lễ, vì “vô vọng bất thành danh”…
Cùng với sự hình thành cộng đồng làng xã, dần dần các hình thức sinh hoạt văn
 






Các ý kiến mới nhất